MỘT SỐ BÀI VIẾT NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG THAM KHẢO BỔ ÍCH CHO SINH VIÊN NGÀNH LUẬT

                                                                                                                                                                          (còn tiếp)


MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 SỬA ĐỔI BỔ SUNG NĂM 2017

1. Một số vướng mắc khi nghiên cứu về chế định xóa án tích quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

       So với quy định tại Bộ luật hình sự cũ, chế định về xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có một số nội dung thay đổi theo hướng có lợi cho người phạm tội và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh qua thực tế áp dụng. Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu chuyên môn và đối chiếu với các hoạt động tố tụng thực tế thì chúng tôi thấy rằng một số quy định liên quan đến chế định này trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất. Cụ thể:
Vấn đề thứ nhất: Tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”. Như vậy, người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng có thể chịu hình phạt, nhưng không bị coi là có án tích.
Từ quy định của khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 2015 có thể hiểu không bị coi là có án tích không đồng nghĩa với việc không bị kết án, có trường hợp đã chịu hình phạt nhưng có thể được xem là không có án tích, những trường hợp bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng vẫn bị xem là có án tích nhưng thuộc các trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Do đó, những trường hợp bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng vẫn xem xét để tổng hợp hình phạt nếu phạm tội mới. Ví dụ: Người bị kết án về tội quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, nếu người này chưa hoặc đang chấp hành hình phạt mà phạm tội mới, thì phải tổng hợp hình phạt.
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, đối với các trường hợp bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng không bị coi là có án tích (đương nhiên được xóa án tích) thì không tổng hợp hình phạt.
Vấn đề thứ hai: Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 nh về việc xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, được coi là không có án tích. Trong khi đó, tại khoản 7 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”. Nghĩa là án đã tuyên đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn xem xét để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 thì, những trường hợp đã bị kết án xem xét xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm phải là những trường hợp chưa được xóa án tích. Như vậy có mâu thuẫn không (?), vấn đề này phải được hiểu thế nào theo nguyên tắc có lợi nhất có người phạm tội.
Đồng thời, nếu người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng phạm một trong các tội mà trong cấu thành cơ bản có quy định dấu hiệu đã bị kết án về tội tương ứng hoặc cùng loại chưa được xóa án tích, thì việc định tội như thế nào (?). Ví dụ: A 16 tuổi 01 tháng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và bị xử phạt 01 năm tù, vừa chấp hành xong hình phạt tù, 7 ngày sau đó A tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác trị giá 1 triệu đồng, có thể xác định A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 không (?).
Và cũng tương tự như ở vấn đề thứ nhất, các trường hợp này có xem xét tổng hợp hình phạt hay không (?).
Đây là những vấn đề có tính thực tiễn cao, cần được nghiên cứu, trao đổi và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng.
Đặng Quốc Lộc – Chánh án TAND thành phố Tam Kỳ

 

2. Những điểm mới về đồng phạm được quy định tại phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và kiến nghị, đề xuất

 

Những quy định về đồng phạm không phải là tình tiết tăng nặng, cũng không phải là tình tiết định khung hình phạt, nhưng trong một số trường hợp, đồng phạm có ý nghĩa rất lớn đến việc xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không. Từ đó cho thấy việc tìm hiểu và làm rõ vấn đề đồng phạm có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn cả về lý luận và thực tiễn trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có nhiều đối tượng tham gia.
Đồng phạm là những người cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm như: cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (là người thực hành), thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm (là người tổ chức), người thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm (là người xúi giục); tạo điều kiện về tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm (là người giúp sức). Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng phạm khác. Cùng cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện về lý trí và ý chí. Về lý trí: mỗi người đồng phạm đều nhận thức được tính chất nguy hiểm đối với hành vi của mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác, thấy trước được việc gây ra hậu quả chung của hành vi phạm tội đó. Về ý chí: những người đồng phạm khi thực hiện hành vi đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra. Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về đồng phạm như sau:“Điều 17. Đồng phạm1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”. Như vậy, để thoả mãn quy định về đồng phạm cần có những điều kiện sau đây:Thứ nhất: phải từ hai người trở lên, những người này phải có đủ dấu hiệu về chủ thể của tội phạm. Đây là điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.Thứ hai: cố ý cùng thực hiện một tội phạm, tức là mỗi người trong đồng phạm đều có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, hành vi của mỗi người được thực hiện có sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại, hành vi phạm tội của mỗi người đều nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm, với mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm. Vì vậy, sẽ không được coi là đồng phạm khi một số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian nhưng giữa những người này không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ lẫn nhau mà hành vi của từng người đều thực hiện độc lập. 1. Một số điểm mới về đồng phạm:So với quy định của BLHS năm 1999, thì về cơ bản BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giữ nguyên các nội dung quy định về đồng phạm của BLHS năm 1999 và có một số điểm mới như sau:Thứ nhất, về mặt kỹ thuật lập pháp thì Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được quy định thành 4 khoản (so với BLHS năm 1999 chỉ gồm 3 khoản), cụ thể là:Khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm” thì được sửa đổi thành khoản 3 của Điều 17 BLHS năm 2015 và có sự thay đổi về kết cấu khi quy định như sau: “3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức”Khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 quy định về phạm tội có tổ chức được chuyển thành khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.Như vậy, Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thay đổi trật tự các khoản của Điều 20 của BLHS năm 1999 là phù hợp và đảm bảo được tính logic cả về mặt nội dung và hình thức của quy định về đồng phạm. Theo quy định của Điều 20 BLHS năm 1999 thì phạm tội có tổ chức được đặt ở vị trí sau nội dung quy định về các loại người đồng phạm. Theo chúng tôi, cách thức đặt vị trí của Điều 20 BLHS năm 1999 là chưa phù hợp. Bởi vì, trong khoa học pháp lý hình sự thì tội phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra các kế hoạch để thực hiện một tội phạm dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu. Khác với các vụ án đồng phạm trong trường hợp bình thường là chỉ cần có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì phạm tội có tổ chức bên cạnh phải thỏa mãn các dấu hiệu bắt buộc của một vụ án đồng phạm mà còn phải thỏa mãn dấu hiệu “câu kết chặt chẽ” giữa những người đồng phạm. Sự câu kết này theo Nghị quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thể thể hiện dưới các dạng như:- Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. – Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước. – Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. Do đó, phạm tội có tổ chức là một hình thức đặc biệt của đồng phạm. Chính vì vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp để đảm bảo tính hợp lý về kết cấu các nội dung trong cùng một điều luật thì phạm tội có tổ chức cần được sửa đổi đặt ngay sau khái niệm về đồng phạm như quy định của Điều 17 BLHS năm 2015, là hợp lý và cần thiết.Thứ hai, về mặt nội dung, thì Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã bổ sung thêm nội dung “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành” vào khoản 4 Điều 17 BLHS. Như vậy, các nội dung tại Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về đồng phạm chỉ có một điểm mới so với Điều 20 BLHS năm 1999 là ghi nhận hành vi vượt quá của người thực hành. Chúng tôi cho rằng đây là một điểm mới và tích cực của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi đã khắc phục được một phần những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xử đối với hành vi vượt quá của người thực hành mà BLHS năm 1999 còn hạn chế. Thực tiễn cho thấy không phải mọi trường hợp những người thực hành đều thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi đã được thỏa thuận trước khi thực hiện tội phạm mà trên thực tế những người thực hành có thể thực hiện hành vi vượt quá yêu cầu của những người đồng phạm khác, khoa học luật hình sự gọi là hành vi vượt quá của người thực hành. Hành vi vượt quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không mong muốn, hành vi của người thực hành mà những đồng phạm khác không có ý định thực hiện. Xuất phát từ một trong các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm là nguyên tắc “chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm”, nghĩa là những người đồng phạm bên cạnh việc chịu trách nhiệm chung về việc cùng thực hiện một tội phạm thì còn phải chịu trách nhiệm hình sự riêng đối với hành vi mà cá nhân người đồng phạm đó thực hiện và không có sự “Cố ý cùng” tham gia của những người đồng phạm khác. Chính vì vậy, đối với hành vi vượt quá của người thực hành thì những người đồng phạm còn lại không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành và người thực hành có hành vi vượt quá phải chịu trách nhiệm hình sự riêng về hành vi vượt quá này. Đây là một điểm mới tích cực và nổi bật về quy định đồng phạm của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 so với BLHS năm 1999. Nội dung này đã khắc phục được hạn chế lớn của BLHS năm 1999 trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá của người thực hành góp phần đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi bổ sung nội dung “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành” thì chúng tôi cho rằng quy định này cần phải được hoàn thiện hơn nữa. Đó là, khi BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về “Hành vi vượt quá” của người thực hành nhưng chưa đưa ra khái niệm hoặc cách thức xác định “Hành vi vượt quá” của người thực hành hoặc ranh giới phân định “Hành vi vượt quá” hay “ không là hành vi vượt quá” của người thực hành. Bởi vì, thực tiễn xét xử cho thấy để xác định hành vi của người thực hành đã thực hiện trong vụ án đồng phạm có phải là hành vi vượt quá hay không gặp rất nhiều khó khăn. Như phân tích trên, để xác định hành vi thực hiện là vượt quá hay không vượt quá thì phải xác định được các đồng phạm khác có cùng cố ý hoặc cùng mong muốn thực hiện hành vi đó hay không. Điều này có nghĩa rằng, ranh giới để phân biệt hành vi vượt quá hay hành vi không vượt quá phục thuộc vào việc làm rõ nhận thức và mong muốn bên trong của người đồng phạm, tức là phụ thuộc và việc xác định lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi được thực hiện. Nếu lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi đó là “cùng cố ý” thực hiện hành vi thì hành vi này được xem là hành vi vượt quá và ngược lại, nếu lỗi trong dấu hiệu chủ quan của hành vi đó là “không cùng cố ý” thực hiện hành vi thì hành vi này không được xem là hành vi vượt quá của người đồng phạm. Hơn nữa, vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác (không phải là người thực hành như: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức) trong vụ án có đồng phạm, không chỉ có liên quan đến hành vi vượt quá của người thực hành mà còn liên quan đến nhiều chế định khác như: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, xác định lỗi, các điều kiện của đồng phạm và phạm tội có tổ chức.v.v… nhưng hành vi vượt quá của người thực hành lại liên quan trực tiếp đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm khác, nên có thể nói hành vi vượt quá của người thực hành chính là điều kiện (căn cứ) để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác.2. Kiến nghị, đề xuất: Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi có những kiến nghị, đề xuất tới Hội đồng Thẩm phán TANDTC như sau:- Khi có hướng dẫn liên quan đến đồng phạm cần cụ thể, rõ ràng về các tiêu chí xác định “Hành vi vượt quá” của người thực hành trong vụ án đồng phạm để đảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp dụng khoản 4 Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.- Cần có hướng dẫn cụ thể mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phạm tội xảy ra trong  môi trường xã hội hiện tại và phù hợp với BLHS hiện hành để thống nhất đánh giá, áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS, sửa đổi bổ sung năm 2017 về phạm tội có tổ chức.
Tác giả bài viết: Ngô Văn Khôi – Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

 

1. Vướng mắc khi áp dụng Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi"

 Tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là BLHS) - là tội danh được sửa đổi, bổ sung từ tội “Hiếp dâm trẻ em” quy định tại Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999. Quá trình nghiên cứu và áp dụng trên thực tế cho thấy, mặc dù mới được sửa đổi, bổ sung, nhưng điều luật trên có những quy định gây khó khăn, bất cập khi xử lý tội phạm này. Cụ thể như sau:
1. Về xác định hành vi khách quan “Quan hệ tình dục khác” của tội phạm.
Khoản 1 Điều 142 quy định về cấu thành cơ bản của tội danh này. Theo đó, căn cứ vào độ tuổi của người bị hại, các dạng hành vi phạm tội được chia thành 2 loại:
     Loại thứ nhất (theo điểm a, khoản 1): Đối với bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi:
Hành vi khách quan của tội phạm biểu hiện ra bên ngoài phải thỏa mãn một trong các trường hợp sau:“Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực” hoặc “Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân” hoặc dùng“thủ đoạn khác”...để giao cấu trái ý muốn hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bị hại.
     Loại thứ hai (Theo điểm b, khoản 2): Đối với bị hại dưới 13 tuổi: Hành vi khách quan của tội phạm gồm “giao cấu” hoặc thực hiện “hành vi quan hệ tình dục khác”; không cần có yếu tố trái ý muốn.
     Như vậy, so với Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 142 BLHS đề cập đến dạng hành vi mới, đó là “hành vi quan hệ tình dục khác”.
      Có nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh quy định này. Theo một số tài liệu đề cập về vấn đề quan hệ tình dục thì cho rằng, nếu quan hệ tình dục nói chung có nghĩa là sự xâm nhập của dương vật vào âm đạo và khả năng tạo ra con cái, thì thuật ngữ quan hệ tình dục khác thường được dùng để chỉ hành vi quan hệ tình dục bằng cách thông qua các bộ phận khác trên cơ thể người nữ giới. Tuy nhiên, cho đến nay, đây là quy định hoàn toàn mới, chưa có văn bản hướng dẫn, khiến những người áp dụng pháp luật gặp khó khăn khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với dạng hành vi này.
2. Về độ tuổi bị hại và mức xử phạt.
Điều 142 BLHS chia Điều luật thành 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định mức hình phạt cơ bản của tội phạm là từ 7 năm đến 15 năm, khoản 2 và 3 quy định mức hình phạt tăng nặng của tội phạm.
Tại khoản 1, việc truy cứu đối với người phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi bị hại, được quy định ở 2 dạng:
- Bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: Phải có yếu tố trái ý muốn của bị hại.
- Bị hại dưới 13 tuổi: Không nhất thiết phải có yếu tố trái ý muốn của bị hại. Người thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì dù đồng thuận hay không đồng thuận, vẫn phải chịu mức án ở khung cơ bản này.
Khoản 2 quy định các tình tiết định khung với mức hình phạt từ 12 đến 20 năm, nhưng không có tình tiết nào đề cập đến độ tuổi của bị hại để làm căn cứ xác định mức hình phạt ở khoản này.
Khoản 3 quy định mức hình phạt được quy định cao nhất trong Điều luật (từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình). Trong đó, điểm c quy định độ tuổi người bị hại là “dưới 10 tuổi”.
     Như vậy, trong trường hợp người bị hại dưới 10 tuổi, người phạm tội phải chịu mức hình phạt khởi điểm là 20 năm tù. Nhưng bị hại từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi, thì người phạm tội chỉ phải chịu mức hình phạt ở khoản 1 với mức cao nhất là 15 năm tù. Trong khi đó, người bị hại dưới 10 tuổi với từ đủ 10 tuổi trên thực tế chỉ chênh lệch nhau có 1 ngày.
     Nếu so sánh với khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì mức hình phạt của Điều 142 BLHS được quy định không phù hợp, tạo bất cập trong áp dụng trên thực tiễn. Đây cũng là một trong những vấn đề cần thiết được tổng hợp để đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.
Vũ Thị Đoan - Phòng 2 VKSND tỉnh Quảng Ninh
(Theo Trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Quảng Ninh)

 

2. Một vài bất cập từ thực tiễn áp dụng Điều 260 và khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015

Ths. LS LÊ VĂN SUA (Văn phòng luật sư Lê Sua, Tp. Mỹ Tho – Tiền Giang) 
Một là, thay đổi tên điều luật từ “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Điều 202 BLHS năm 1999 thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Điều 260 BLHS năm 2015. Việc thay đổi tên điều luật dẫn đến có sự thay đổi về chủ thể thực hiện tội phạm từ người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ sang người tham gia giao thông đường bộ.
Cần phân biệt khái niệm người tham gia giao thông đường bộ (GTĐB) và người điều khiển phương tiện GTĐB. Theo quy định tại các khoản 22, 23 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008: “Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn ắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ.” ; “ Người điều khiển phương tiện gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.”
Như vậy, Luật mới đã có sự thay đổi rõ rệt khi quy định rộng hơn về chủ thể của hành vi gồm tất cả những người tham gia giao thông kể cả những người khi tham gia giao thông là người đi bộ.
Hai là, cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của Điều luật và bổ sung vào khoản 2 Điều luật, cụ thể là “định lượng” cụ thể của hậu quả làm chết người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ % tổn thương cơ thể cụ thể; gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản. Nhà làm luật đã kế thừa chọn lọc những nội dung quy định có liên quan của Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của BLHS về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông ( viết tắt Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT) để quy định chi tiết các khoản của điều luật này.
Ba là, thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 là “từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đến 100 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối thiểu tại khoản 1 là từ “01 năm” lên “05 năm” so với Điều 202 BLHS 1999. Đồng thời, quy định phạt tiền (từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng) là hình phạt chính đối với hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại các điểm a, b, c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời” tại khoản 4.
Bên cạnh những điểm mới có tính cụ thể hơn, chi tiết hơn, dễ dàng áp dụng trong thực tiễn hơn, qua nghiên cứu người viết thấy rằng, còn nhiều trường hợp mà thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử bị “vướng” khi áp dụng Điều 260 ; khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành định khung của tội phạm này trong trường hợp cụ thể, nhưng thực tiễn cho thấy có bất cập về quy định, áp dụng pháp luật với trường hợp một người thực hiện hành vi phạm tội này gây ra lớn hơn so hậu quả do hành vi của người khác cũng phạm tội này gây ra, nhưng trách nhiệm hình sự của người đã gây ra hậu quả lớn hơn đó lại nhẹ hơn trách hình sự của người cũng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà hậu quả họ gây ra lại nhỏ hơn. Cụ thể:
+Trường hợp thứ nhất: Nguyễn Văn D. điều khiển xe ôtô tải biển số 62A- 219.49 đi sai phần đường nên đâm trực hiện vào xe môtô biển số 63F1-03491, do chị Trần Thị Nh. điều khiển, phía sau có chở chị Lâm Thị Mỹ H., hậu quả vụ tai nạn này làm chị Nh. bị tỉ lệ thương tật 71 % sức khỏe ; chị H. là 69% . Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của 02 người này là 140%. Do vậy, D. bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015, theo đó, điểm e khoản 2 Điều luật này quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:         
e).Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”.
+Trường hợp thứ hai: Quách L. điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 64H-1415 chở cát sỏi phục vụ Dự án cải tạo nâng cấp Quốc lộ 50, do L. không làm chủ tốc độ, xử lý kém khi phát hiện có chướng ngại vật trên đường, nên xe ô tô do L. lái đâm vào xe môtô biển kiểm soát 64B1-766.67 chạy ngược chiều do anh Trân Hiếu M. điều khiển chở vợ là chị Phạm Thị Minh H. ngồi phía sau, hậu quả vụ tai nạn, làm chị H. bị chấn thương sọ não nặng, vỡ xương chậu và tử vong sau đó; anh M. bị tổn thương sức khỏe tỉ lệ thương tật qua giám định là 86%.
Quách L. bị truy tố và xét xử vê tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015. Theo đó, tại điểm a, b khoản 1 Điều luật này quy định: “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:  
a) Làm chết người;  
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên;”
Qua hai trường hợp cụ thể trên cho thấy, hậu quả xảy ra ở trường hợp thứ nhất rõ ràng là nhẹ hơn (tỉ lệ thương tật chung của 02 người là 140%), nhưng bị truy tố và xét xử theo khung 2 với mức hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Trong khi đó, với trường hợp thứ hai, hậu quả xảy ra là nặng hơn so với trường hợp thứ nhất (01 người chết; 01 người bị thương tật vĩnh viễn 86%), nhưng chỉ bị truy tố và xét xử theo khung 1, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Phải chăng đây là sự bất cập?        
Tương tự như vậy, nếu so sánh về mặt hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra, còn có thể phát hiện thêm bất cập khác tại điểm đ khoản 2 với điểm b khoản 3 của Điều luật này. Cụ thể:
+Trường hợp thứ ba: Dư Thị Ngọc D. điều khiển xe ôtô từ cơ quan về nhà, khi cách giao lộ đường Hùng Vương – đường Nguyễn Tri Phương của thành phố X (tại đây có lắp tín hiệu giao thông đèn xanh đèn đỏ), do đạp nhầm chân ga nên xe ô tô của D. phóng nhanh về phía trước đâm thẳng vào 02 xe môtô đang dừng rời lao vào gốc cây cổ thụ ven đường cách đó chừng 15 m, rồi mới dừng lại hẳn. Cơ quan chức năng tiền hành đo nồng độ cồn có trong khí thở của chị D. kết quả là 75 miligam/1 lít khí thở. Hậu quả vụ tai nạn này, làm anh Trần Văn Th. bị tổn hại sức khỏe tỉ lệ thương tật 62 %; anh Vũ Huy Đ. tổn hại sức khỏe 89% sức khỏe và ông Lâm Vĩnh Kh. bị tổn hại sức khỏe 97%. Tổng tỉ lệ % sức khỏe của 03 người bị hại trong vụ tai nạn này là 248%.
Ngày 12/12/2018, Dư Thị Ngọc D. bị TAND thành phố X phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 260 BLHS năm 2015.
+Trường hợp thứ tư: Nguyễn Văn Poli điều khiển xe ôtô đi vào đường ngược chiều xảy ra va chạm với 02 xe mô tô đang lưu thông đúng với phần đường quy định. Hậu quả vụ tai nạn này, làm em Văn Thị T. và Trần Thị Th. (học sinh Trường Phổ thông trung học Hoàng Lam) bị tử vong trên đường đưa đi cấp cứu; ông Nguyễn Văn R. bị tổn hại sức khỏe qua kết luật giám định 91%.
Ngày 06/11/2018, TAND thành phố M tuyên phạt Nguyễn Văn Poli 07 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015.
Rõ ràng hậu quả của trường hợp thứ tư là nghiêm trọng hơn (02 người chết, 01 người bị thương tỉ lệ thương tật 91%) so với hậu quả xảy ra ít nghiêm trọng hơn của trường hợp thứ ba (03 người bị thương, tổng tỉ lệ thương tật 248%), nhưng khung hình phạt quy định phải áp dụng cho trường hợp thứ ba là nặng hơn (hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm) so với khung hình phạt quy định cho trường hợp thứ tư (hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm), từ đó, mức hình phạt Tòa án áp dụng cho trường hợp thứ ba , nếu như không có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cũng nặng hơn so với trường hợp thứ tư, rõ ràng đây là một bất cập cần được các nhà làm luật nghiên cứu khắc phục.
Thứ hai, nội dung tại Điều 260 BLHS hiện hành đang thiếu quy định chuyển từ khung hình phạt này sang khung hình phạt khác trong cùng điều luật áp dụng.
Phần lớn mọi người đều biết, nếu hậu quả vụ tai nạn giao thông đường bộ mà người điều khiển xe mô tô gây ra làm chết một người mà trong tình trạng say rượu bia (nồng độ cồn trong máu hoặc hơi thở vượt mức quy định), lỗi hoàn toàn thuộc về người điều khiển phương tiện, thì có thể bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mức hình phạt tù mà người gây ra tai nạn phải đối mặt từ 03 năm đến 10 năm. Đây là điều khẳng định.
Tuy nhiên, nếu hỏi dựa trên căn cứ pháp lý nào để khẳng định như vậy, thì thực tế hiện nay vẫn có không ít người không thể chỉ ra được quy phạm nào điều chỉnh vấn đề này, hay nói cách khác, nội dung quy phạm tại Điều 260 BLHS hiện hành đang thiếu tính minh bạch với trường hợp chuyển khung (từ khung 1 sang khung 2; từ khung 2 sang khung 3). Trường hợp vừa nêu trên thực chất là việc các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền chuyển khung (chuyển từ khoản 1 sang khoản 2) của Điều luật đang áp dụng, dù hậu quả xảy ra chỉ ở khoản 1 (làm chết một người) nhưng do có tình tiết định khung phạm tội “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS hiện hành, do vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử trường hợp trên là hoàn toàn chính xác.
Tương tự như vậy, các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại các điểm a, b, c, d của khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể: “a) Không có giấy phép lái xe theo quy định; b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông.” chưa được quy định là tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 3 của Điều luật này, từ đó, tạo ra sự lúng túng và không đảm bảo sự công bằng của pháp luật khi áp dụng nhằm đấu tranh phòng ngừa, xử lý nghiêm minh loại tội phạm này. Chẳng hạn, A điều khiển xe mô tô tham gia giao thông gây tai nạn cho phương tiện khác trong tình trạng có sử dụng rượu mà nồng độ cồn đo được 85 miligam/100 mililít máu, , hậu quả làm chết 01 người, lỗi hoàn toàn thuộc về A. Trong trường hợp này, mặc dù hậu quả xảy ra thuộc điểm a khoản 1, nhưng do khi A thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng nồng độ cồn có trong máu vượt mức quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, do đó, A bị điều tra, truy tố, xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Nhưng với trường hợp trên, nếu hậu quả xảy ra làm chết 02 người thì A cũng chỉ bị truy tố, xét xử theo điểm b, điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật này mà thôi.
Đây rõ là một bất cập, dù biết rằng khung hình phạt tại khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 thấp nhất là 03 năm tù và cao nhất là 10 năm tù, với khoảng cách giữa mức thấp nhất và cao nhất khung hình phạt đã được ấn định, Hội đồng xét xử tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra từng trường hợp cụ thể để quyết định mức hình phạt tương xứng. Nhưng qua nghiên cứu từ thực tiễn xét xử loại tội phạm này từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành đến nay cho thấy, do nhà làm luật chưa có quy định các tình tiết từ điểm a đến điểm d tại khoản 2 là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3 của Điều luật này, nên hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng ngừa, răn đe tình trạng vi phạm pháp luật hình sự đối với lọai tội phạm này mặt nào đó còn rất hạn chế, nhất là trong tình hình hiện nay, tình trạng lái xe say rượu bia, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích thần kinh mạnh khác mà gây tai nạn giao thông với hậu quả làm chết từ 03 người trở lên; làm bị thương cũng từ 03 người trở lên đang gây bức xúc trong dự luận, điển hình như:
+Vụ xe tải đâm vào đoàn người viếng nghĩa trang ở Hải Dương, xảy ra ngày 21/01/2019, tài xế Lương Văn Tâm điều khiển xe ô tô tải đã đâm vào đoàn cán bộ xã Kim Lương, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương trên đường đi viếng nghĩa trang liệt sĩ về. Hậu quả, làm 09 người tử vong và 8 người khác bị thương. Kết quả xét nghiệm, tài xế Lương Văn Tâm dương tính với ma túy.
+ Vụ xe container đâm 20 xe máy khi dừng đèn đỏ cũng dương tính với ma túy xảy ra ngày 02/01/2019 tại ngã tư Bình Nhựt, huyện Bến Lức, tỉnh Long An do lái xe Phạm Thành Hiếu điều khiển. Hậu quả, vụ tai nạn làm 04 người tử vong, 18 người khác bị thương, hư hỏng hơn 20 xe máy. Kết quả xét nghiệm Phạm Thành Hiếu dương tính với ma túy.
+Khoảng 13h ngày 11/04/2019, tài xế Nguyễn Đức Huyện điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát49X-6666 trong tình trạng nồng độ cồn đo được vượt quá mức quy định đã lao vào đám tang, hậu quả làm 4 người chết, 7 người khác bị thương.
Ngoài ra, người viết còn thấy rằng theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”. Theo quy định này, nếu người lái xe ô tô đang trong tình trạng có sử dụng chất ma túy; không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng cảnh sát tuần tra giao thông; sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp mà gây hậu quả là chết 03 người, gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người khác, mà tổng tỉ lệ thương tật qua giám định của những người này là 211% thì người vi phạm cũng chỉ bị điều tra, truy tố, xét xử theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 260 BLHS hiện hành, mà không thể coi các tình tiết có sử dụng chất ma túy; không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng cảnh sát tuần tra giao thông; sử dụng giấy phép lái xe giả là tình tiết tăng nặng khi lượng hình, do các tình tiết này nhà làm luật đã quy định là tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tất nhiên phần nhận định của bản án, HĐXX có thể đề cập đến nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn thảm khóc, làm cơ sở đi đến quyết định loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể áp dụng, nhưng về mặt cơ sở pháp lý trong trường hợp này rõ ràng HĐXX thiếu quy phạm làm cơ sở dẫn chiếu cụ thể để áp dụng các tình tiết có sử dụng chất ma túy; không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng cảnh sát tuần tra giao thông; sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp khi lượng hình phạt.
Nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015, có thể thấy, đây là quy định về bản chất là chuyển khung hình phạt áp dụng khi thuộc trường hợp vừa thỏa mãn cấu thành cơ bản của tội phạm này, vừa xuất hiện thêm một trong những tình tiết định khung cơ bản quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật này, thì phải bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.
Tương tự như vậy, tại điểm đ khoản 3 và điềm d khoản 4 của Điều 134 BLHS năm 2015 cũng có quy định theo hướng chuyển khung hình phạt. Với cách mô tả, xây dựng quy phạm pháp luật như Điều 134 BLHS hiện hành, theo tác giả rất dễ hiểu và dễ áp dụng, bởi nhà làm luật đã xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng và minh bạch.
Từ đó, người viết xin kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung BLHS hiện hành lần tới theo hướng quy định các tình tiết từ điểm a đến điểm d khoản 2 với một trong các tình tiết định khung quy định tại khoản 3 thành khoản mới. Theo đó, khoản mới của Điều 260 BLHS (sau khi được sửa đổi, bổ sung) được viết, như sau: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm c khoản 3 Điều này mà còn có thêm một trong những tình tiết quy định từ điểm a đến điểm d khoản 2, thì bị phạt tù từ … năm đến … năm.”
Thứ ba, theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015: “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
Có thể nói đây là nguyên tắc hoà giải trong luật hình sự nhằm giữ gìn sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Tuy nhiên, việc hòa giải giữa người phạm tội với người bị hại chỉ đối với hai loại tội phạm, đó là, tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng (không phân biệt tội phạm do cố ý hay vô ý) gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, còn đối với các tội phạm khác thì không được hòa giải để người bị hại đề nghị miễn truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Tuy nhiên thực tiễn áp dụng đã gặp phải vướng mắc với nhiều trường hợp tương tự sau:
+Trường hợp thứ nhất: Trần Anh Ph. điều khiển xe ô tô vào đoạn đường khu đông dân cư nhưng thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, nên gây tai nạn với 02 xe mô tô đi cùng chiều, hậu quả làm chết 01 người và gây thương tích cho 02 người khác với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 115%. Ph. bị điều tra, truy tố và xét xử theo Điểm a, Điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trường hợp này, nếu đủ điều kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì có thể Ph. được xem xét miễn TNHS.
+Trường hợp thứ hai: Đinh Phong L. điều khiển xe mô tô đi vào làn đường ngược chiều, đâm vào xe đạp điện do em Nguyễn Thị Quỳnh D. điều khiển phía sau chở bạn là em Lê Thùy Q. trên đường đi học về, hậu quả vụ tai nạn, em D. và Q. bị thương tích nặng, điều trị dài ngày tại bệnh viện, kết quả qua giám định tỉ lệ thương tật của D. là 72%, Q. là 69%, tổng tỉ lệ thương tật của 02 người là 141%. Với trường hợp này, Đinh Phong L. bị truy tố, xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sunbg năm 2017), và tất nhiên, L. không được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét miễn TNHS theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015.
Từ thực tiễn 02 trong nhiều trường hợp tương tự vừa nêu trên cho thấy, nếu so sánh về mức độ hậu quả, rõ ràng với trường hợp thứ nhất là nghiêm trọng hơn so với trường hợp thứ hai, do vậy, về nguyên tắc thì TNHS mức hình phạt được cụ thể hóa đối với Trần Anh Ph. (trường hợp thứ nhất) phải cao hơn so với Đinh Phong L. (trường hợp thứ hai) tuy L. bị truy tố, xét xử ở khung hình phạt nặng hơn so với Ph.. Vấn đề bất cập ở đây đó là sự không công bằng thể hiện tại Điều 260 và khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó, làm nảy sinh độ “vênh” nhất định khi áp dụng vào thực tiễn. Dù rằng, khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, nhà làm luật chỉ quy định “có thể” xem xét để miễn TNHS.
Cũng cần thấy rằng, nội dung quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 nhà làm luật đã “giới hạn” trong những trường hợp khi và chỉ khi thỏa mãn quy định được chỉ ra, thì mới có thể xem xét việc miễn TNHS. Tuy nhiên, để đạt được sự thống nhất về nhận thức tránh bị lạm dụng khi áp dụng vào thực tiễn hoặc ngược lại, do tâm lí “e dè” thiếu quyết đoán; ngại trách nhiệm không mạnh dạn áp dụng chế định này mà cứ theo lối “mòn” đẩy hết sang Tòa án, rồi Thẩm phán cứ phạt tù là “ổn” nhất. Từ tâm lý này, dẫn đến quy định miễn TNHS không được áp dụng đối với nhiều trường hợp đáng lẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét áp dụng.
Phải chăng đây là hạn chế cần khắc phục, sự hạn chế này chính là rào cản sự lan tỏa tính nhân văn tốt đẹp của chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta thể hiện tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015.
Chẳng hạn, người phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015, được đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS là thuộc trường hợp xem xét miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng nếu như lỗi hoàn toàn thuộc về người phạm tội gây hậu quả chết người, để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trong tình hình số vụ tai nạn giao thông đường bộ với hậu quả nghiêm trọng xảy ra ngày càng tăng như hiện nay thì không xem xét miễn TNHS đối với họ mà chỉ xem xét miễn TNHS với trường hợp người bị hại cũng có một phần lỗi!?
Nghiên cứu nội dung quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015, nhà làm luật hoàn toàn không đề cập đến yếu tố lỗi khi xem xét áp dụng miễn TNHS, do vậy, về nguyên tắc luật không quy định thì được áp dụng, bảo đảm nguyên tắc có lợi cho đối tượng là người được áp dụng.
Ngược lại, có quan điểm cho rằng, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá, cân nhắc thận trọng việc “nên” hay “không nên” để từ đó đi đến quyết định“có thể” áp dụng chế định miễn TNHS không? Do vậy, việc phân tích yếu tố lỗi là cần thiết và không trái luật. Thật ra, quan điểm này là không sai, vì, nhà làm luật cho phép cơ quan tiến hành tố tụng cân nhắc, việc “có thể” hoặc “không thể” áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với người thực hiện hành phạm tội đang đề cập. Tuy nhiên, việc đưa yếu tố lỗi của người phạm tội để luận bàn khi xem xét, cân nhắc trong trường hợp vừa nêu nói riêng và những trường hợp khác nói chung, cần được sự hướng dẫn thống nhất chung từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo sự thống nhất về nhận thức và áp dụng trong thực tiễn thi hành pháp luật.
Cũng liên quan đến tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015, trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS, như vậy, người phạm tội có đầy đủ các điều kiện để được xem xét miễn TNHS theo khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015. Nhưng để thực hiện quy định này, về thủ tục chung hiện có các quan điểm khác nhau, cụ thể:
+Quan điểm thứ nhất: Dù Luật không quy định, nhưng có thể vận dụng khoản 2 Điều 157 BLTTHS năm 201 5“Hành vi không cấu thành tội phạm” để ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Hơn nữa, cũng không cần thiết phải khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can rồi mới ra quyết định đình chỉ để miễn TNHS, vì khởi tố thì phải tiến hành các quy định của BLTTHS năm 2015, như: Cơ quan điều tra phải lập hồ sơ; gửi tài liệu, hồ sơ cho VKSND cùng cấp để xem xét phê chuẩn; tống đạt các quyết định; hỏi cung bị can và tiến hành điều tra vụ án. Vế phía cơ quan VKSND phải nghiên cứu hồ sơ; xem xét, ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc điều tra… Hơn nữa, khi biết chắc chắn rằng sau khi khởi tố, điều tra rồi đình chỉ là không hợp lý, là chưa thể hiện đúng chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự của Nhà nước ta.
+Quan điểm thứ hai: Vì không có căn cứ để ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 157[1] BLTTHS năm 2015, do đó, Cơ quan điều tra phải tiến hành ra các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, sau đó, mới ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015.
Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng: Theo quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2015:“ Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án…”. Xét hành vi của người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải khởi tố, nếu không khởi tố đối với A thì sẽ trái với quy định của BLTTHS năm 2015 về căn cứ không khởi tố hình sự. Hơn nữa, tại Điều 157 BLTTHS năm 2015, theo đó quy định các căn cứ không khởi tố hình sự lại không có căn cứ nào thuộc Điều 29 BLHS năm 2015.
Trong khi đó, tại điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015 quy định về đình chỉ điều tra “Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”…
Mặt khác, khoản 1 Điều 248 BLTTHS năm 2015 cũng quy định “Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”.
Theo tác giả, với quan điểm thứ nhất, rõ ràng có sự nhanh chóng kịp thời trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tuy nhiên, nếu áp dụng sẽ bị coi là “vượt rào” vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hơn nữa, các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 đều thỏa mãn, cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ để truy cứu TNHS, chứ không phải thuộc trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm. Đây là điều tuyệt đối không được nhầm lẫn. Bởi nếu không chặt chẽ về mặt thủ tục tố tụng dễ phát sinh những khiếu nại, tố cáo sau này. Nếu theo quan điểm thứ hai, việc tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra được bảo đảm, nhưng phải kéo dài thời gian, do phải thực hiện đúng, đầy đủ theo quy trình rất nhiều các thủ tục tố tụng hình sự, tạo ra tâm lý căng thẳng mệt mõi đối với người phạm tội khi phải chịu những hậu quả pháp lý do bị khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn và trong chừng mực nào đó có thể ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
3. Những bất cập trong việc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS 2015) được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta. Tuy nhiên, qua nghiên cứu áp dụng BLHS 2015 vào thực tiễn thì gặp nhiều vướng mắc, bất cập, trong đó có bất cập khi áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 đối với người chưa thành niên. Cụ thể:
Theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 về tội Trộm cắp tài sản thì:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 107 BLHS năm 2015 thì “Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này”. 
Giả sử trường hợp người chưa thành niên có hành vi trộm cắp tài sản và bị kết án 09 tháng tù giam, nếu ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù này họ có hành vi trộm cắp lần thứ 2, trị giá tài sản dưới 2 triệu đồng thì không cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015. (vì theo quy định thì họ được coi là không có án tích)
Nếu cũng với giả thuyết trên là người chưa thành niên có hành vi trộm cắp tài sản bị xử phạt hành chính 2.000.000 đồng, ngay sau đó lại trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng thì đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015. Vì theo quy định tại Khoản 1 Điều 137 Luật Xử phạt vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3, thông qua vào ngày 20/6/2012 (Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012) thì “Người chưa thành niên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm”.
Đây là một vướng mắc, bất cập của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 trong việc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và có liên quan đến các hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị xử lý trước đó được quy định trong BLHS 2015. Vì vậy, cần kiến nghị xem xét, sửa đổi Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng “Mọi biện pháp xử lý hành chính được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”, và đây cũng là sự công bằng, phù hợp với quy định “Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích nếu thuộc một trong các trường hợp..” tại Khoản 1, Điều 107 BLHS 2015.

4. Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của BLHS 2015, sửa đổi 2017 về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy

Các tội phạm về ma túy được quy định tại Chương XX của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 gồm 13 Điều, từ Điều 247 đến Điều 259. So với Bộ luật hình sự 1985 (được sửa đổi, bổ sung năm 1997), Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), các tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 được sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, toàn diện, khẳng định chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh đối với loại tội phạm ma túy. Nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng nhất là tách 4 hành vi: Tàng trữ, vận chuyển, mua bán và chiếm đoạt trái phép chất ma túy từ một tội ghép thành bốn tội độc lập (như Bộ luật hình sự năm 1985), tương ứng với bốn tội khác nhau là hình phạt khác nhau: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt nhẹ nhất, khoản 1 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, khung hình phạt cao nhất đến tù chung thân. Tội Mua bán trái phép chất ma túy, khoản 1 có mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù, khung hình phạt cao nhất đến chung thân, tử hình. Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, khoản 1 mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù, khung hình phạt cao nhất đến chung thân, tử hình. Tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy, khoản 1 có mức hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, khung hình phạt cao nhất đến tù chung thân.

         Phạm vi bài viết này xin được trao đổi về thực tiễn áp dụng đối với hai tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy, là hai loại tội đang diễn ra phổ biến và có nhiều quan điểm chưa thống nhất trong xác định tội danh giữa các cán bộ, cơ quan, người tiến hành tố tụng cấp cơ sở. Có thể khẳng định các điều luật về ma túy của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 đã quy định cụ thể, chi tiết thành các điều luật riêng biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc định tội và cá thể hóa hình phạt. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các tội phạm về tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 thời gian qua cho thấy những vướng mắc, xung đột cần được giải quyết, cụ thể như sau:
 
         Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt nhẹ nhất khoản 1 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, trong khi Mua bán trái phép chất ma túy, khoản 1 từ có mức hình phạt nhẹ nhất từ 2 đến 7 năm tù. Quy định trên thể hiện sự đánh giá tính nguy hiểm của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhẹ hơn so với tội Mua bán trái phép chất ma túy, chính điều này là nguyên nhân gây ra một số vướng mắc trong giải quyết vụ án mà trước đây áp dụng Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 không gặp phải.
         Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017: “...Tàng trữ trái phép chất ma túy là…không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy”. Điều đó có nghĩa là nếu một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán thì không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phải tinh thần quy định này chưa được giải thích trong văn bản pháp luật, đó là: tại Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Tòa án nhân dân tối cao- Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 đã hướng dẫn: Mua bán trái phép chất ma túy gồm nhiều hành vi trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. Do vậy, theo Hướng dẫn tại Thông tư 17, khi xác định được một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác thì người đó phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Thông tư 17 hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự 1999, đến nay Bộ luật hình sự 1999 đã hết hiệu lực. Trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể đối với các tội phạm về ma túy của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, ảnh hưởng nhiều đến việc xác định tội danh, đặc biệt khi mà tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy có mức hình phạt khác nhau. Để né trách trách nhiệm hình sự về tội hoặc hình phạt nặng hơn, mặt khác do quy định mới của Luật tạm giữ, tạm giam, bị can có quyền tiếp xúc với thân nhân, người bào chữa cởi mở hơn trước kia nên không loại trừ trường hợp sau khi được tư vấn bị can có thể thay đổi lời khai tại bất kỳ giai đoạn tố tụng nào theo hướng có lợi cho họ. Do đó vấn đề nhất quán trong định tội danh giữa tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 ngay sau khi xác định được toàn bộ hành vi khách quan, động cơ, mục đích có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với công tác kiểm sát điều tra, truy tố.
         Thực tiễn hiện nay xảy ra trường hợp: Toàn bộ quá trình điều tra, truy tố bị can khai nhận tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích ai mua thì bán, nhưng cơ quan tố tụng đánh giá chứng cứ cho rằng: Ngoài lời khai của bị can không xác định được người mua cụ thể nên không đủ căn cứ xác định bị can phạm tội Mua bán mà bị can chỉ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hoặc trường hợp ngoài 01 lần bán ma túy hoàn thành, bị can còn tàng trữ 0,1 gam Heroine mục đích có ai mua thì bán (không xác định được người mua), Viện kiểm sát truy tố 02 tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Điều 251 và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249. Tòa án cho rằng bị cáo chỉ phạm một tội Mua bán trái phép chất ma túy, đối với 0,1 gam ma túy Heroine nhằm để bán có 02 luồng ý kiến:
         Một là: Phải tính số lượng ma túy tàng trữ nhằm để bán đó là một lần bán ma túy để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 251 về tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết “phạm tội nhiều lần”.
        Hai là: Lượng ma túy này cần được thu hút vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 251. 
          Những quan điểm như trên đều bộc lộ những điểm bất hợp lý.
          Thứ nhất: Ngoài Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 đang có hiệu lực, đến thời điểm hiện nay, không có định nghĩa cụ thể trong Bộ luật hoặc Hướng dẫn của trung ương hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là gì, nhưng qua quy định Tàng trữ trái phép chất ma túy mà …không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi từ đó suy ra rằng: Khi một người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán trái phép là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, như tinh thần hướng dẫn tại Thông tư 17 trước đây. 
       Thứ hai: Trong đời sống thực tiễn, thông thường người bán hàng (bất kỳ mặt hàng gì: lương thực, thực phẩm, thuốc men…) đều không biết cụ thể người sẽ mua hàng hóa của mình là ai, nhưng có một điều chắc chắn họ luôn có mục đích bán hàng, họ được xã hội gọi là người làm nghề buôn bán, kinh doanh, doanh nhân… Liên hệ với trường hợp người bán ma túy, họ cũng không thể biết họ sẽ bán ma túy cho ai cụ thể trước được, chỉ biết rằng họ luôn sẵn có ma túy để bán cho người có nhu cầu. Do đó, lập luận của quan điểm cho rằng phải chứng minh được người mua thì mới cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy là khiên cưỡng, không đúng tinh thần Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017.
         Thứ ba: So sánh với hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 06/2008/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC ngày 25/12/2008 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo thì hành vi tàng trừ, vận chuyển trái phép pháo nổ với mục đích buôn bán ở trong nước bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm”. Việc định tội và áp dụng đến nay không xảy ra tranh chấp với cùng một vấn đề có điểm tương đồng như trên.
         Để thống nhất trong xác định tội danh, phục vụ tốt công tác áp dụng pháp luật hình sự, liên ngành trung ương cần có hướng dẫn để thống nhất giải quyết nhưng tranh chấp, xung đột trong định tội danh đối với trường hợp Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua và trường hợp ngoài hành vi mua bán hoàn thành đã bắt quả tang trước đó hoặc chứng minh được có đủ chứng cứ là trước đó họ đã bán ma túy một lần trở lên, người phạm tội còn tàng trữ trái phép một lượng chất ma túy (đủ định lượng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy) nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua là cần thiết.
                                                                                                                                                           Mã Văn Hùng
                                                                                                                                          Kiểm sát viên-Viện KSND thành phố Việt Trì



TÀI LIỆU VĂN BẢN LUẬT
  1. https://luatvietnam.vn/hinh-su/bo-luat-hinh-su-2015-101324-d1.html
  2. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-01-VBHN-VPQH-2017-Bo-luat-Hinh-su-363655.aspx
  3. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bat-dong-san/Luat-Dat-dai-2003-13-2003-QH11-51685.aspx
  4. https://luatvietnam.vn/dat-dai/luat-dat-dai-2013-83386-d1.html
  5. https://www.tracuuphapluat.info/2019/04/van-ban-hop-nhat-luat-dat-dai-nam-2018.html
                                               Tác giả: TS. Lê Văn Quyến – Trưởng khoa Pháp luật hành chính

 

CÁC BÀI KHÁC

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây