MỘT SỐ BÀI VIẾT NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG THAM KHẢO BỔ ÍCH CHO SINH VIÊN NGÀNH LUẬT (tiếp theo)

   5. Bất cập trong quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
-Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tiền thân là “Tội cho vay lãi nặng” được quy định từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999. Qua quá trình thi hành, quy định của BLHS năm 1999 về tội danh này đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, làm cho quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội này gặp phải những khó khăn. Bên cạnh đó, những năm vừa qua, hoạt động cho vay nặng lãi của các nhóm tội phạm có những diễn biến phức tạp, số vụ án được phát hiện ngày càng có quy mô lớn, diễn ra trên phạm vi rộng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng như thành lập các “công ty tài chính” trá hình, ứng dụng internet, mạng xã hội, công nghệ thông tin để quảng bá và lôi kéo “khách hàng”, kéo theo những hoạt động tội phạm khác nhằm mục đích thu hồi nợ của người vay, như: cố ý gây thương tích, cưỡng đoạt tài sản, gây rối trật tự công cộng,… khi người vay không trả được nợ. Điều này càng đòi hỏi quy định của pháp luật cần nhanh chóng được hoàn thiện để làm cơ sở xử lý hành vi phạm tội này một cách rõ ràng, triệt để hơn, đảm bảo yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Khi BLHS năm 2015 được ban hành (SĐ, BS năm 2017), tên tội danh này đã được sửa đổi thành “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 201. Quy định về tội danh này tại BLHS hiện hành đã kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định của BLHS năm 1999, khắc phục những hạn chế, khó khăn khi thi hành quy định cũ, như: trong việc chứng minh dấu hiệu “có tính chất chuyên bóc lột” của người cho vay; trong việc tính mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định; xác định dấu hiệu định khung thu lợi bất chính lớn như thế nào,... Quy định mới cũng phù hợp, thống nhất với các quy định mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Tuy nhiên, quy định về tội danh này trong BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định, dẫn đến các quan điểm và cách áp dụng pháp luật giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa được thống nhất. Ví dụ như: áp dụng tình tiết định tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng, tính khả thi của quy định này  khi các văn bản về xử lý vi phạm hành chính chưa có quy định; cách xác định khoản tiền thu lợi bất chính để làm căn cứ định tội tại Khoản 1 và áp dụng tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2; một số khó khăn trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người vay tiền trong vụ án, áp dụng pháp luật để xử lý khoản tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng hay trong việc xử lý đối với khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay (tiền gốc) và khoản lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm.

- Hướng dẫn của Công văn số 212/TANDTC-PC đã giải quyết triệt để một số vướng mắc đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Để góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, dân sự và kinh doanh, thương mại nói chung và vụ án về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nói riêng, ngày 29/7/2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức phiên họp trực tuyến để giải đáp một số vướng mắc trong xét xử. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 (gọi tắt là Công văn số 212) thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, trong đó có nội dung giải đáp vướng mắc về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Nội dung hướng dẫn của Tòa án tối cao được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án. Những nội dung đó đã phần nào giải quyết những vướng mắc khi áp dụng quy định của BLHS để xử lý đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Vướng mắc thứ nhất, về cách xác định khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự. Công văn số 212 đã nêu rõ: Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà không phải là tổng số tiền lãi thu được từ việc cho vay. Bởi vì, theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay...”. Như vậy, số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất từ 20%/năm trở xuống của khoản vay không được coi là tiền thu lợi bất chính để buộc người cho vay phải chịu trách nhiệm hình sự. Tiền thu lợi bất chính được xác định là số tiền lãi thu được từ mức lãi suất trên 20%/năm trở lên.
Công văn này cũng đã xác định, trong trường hợp người phạm tội cho nhiều người khác vay tiền thì khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần phạm tội từ 100 triệu đồng trở lên, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017).  
Vướng mắc thứ hai, việc áp dụng pháp luật để xử lý các khoản tiền trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Theo quy định tại điều 201 BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) và hướng dẫn của Công văn số 212, trong vụ án có 3 khoản tiền: tiền gốc, tiền lãi thu được từ lãi suất 20%/năm trở xuống và tiền lãi thu được từ lãi suất trên 20%/năm trở lên, ba khoản tiền này có cách xử lý khác nhau:
Trên cơ sở quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Công văn số 212 xác định khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên được trả lại cho người vay tiền, trừ trường hợp người vay sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy...), khoản tiền thu lợi bất chính bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc) được xác định là phương tiện phạm tội, sẽ bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, tuy không bị tính để xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Đồng thời, hoạt động cho vay lãi nặng thường gắn với các băng nhóm tội phạm. Do đó, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Tòa án phải tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản tiền này.
Vướng mắc thứ ba, xác định tư cách tham gia tố tụng của người vay tiền trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Công văn số 212 nêu rõ: Theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người vay tiền trong trường hợp này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà không phải với tư cách là bị hại.
Hướng dẫn của Công văn số 212 đã giải quyết triệt để 3 vướng mắc trên trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý đối với loại tội phạm này một cách tương đối đầy đủ, rõ ràng.

- Một số bất cập đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Tuy nhiên, thực tế áp dụng quy định của pháp luật cho thấy vẫn còn một số vướng mắc trên thực tế chưa được Công văn số 212 giải quyết.
Bất cập thứ nhất, là Điều 201 BLHS năm 2015 năm 2015 (SĐ, BS năm 2017), đã bổ sung dấu hiệu định tội mới là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng mà còn vi phạm. Tuy nhiên, hiện tại, chưa có văn bản để quản lý và xem xét xử lý hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng, đây là một hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng phi chính thức này. Quy định duy nhất về vấn đề này là Điểm d Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi: “cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”. Như vậy, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP chỉ quy định xử phạt đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản mà không có quy định xử phạt đối với hành vi cho vay lãi nặng không có cầm cố tài sản. Điều này dẫn đến việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng không cầm cố tài sản (hình thức phổ biến hiện nay) rất khó thực hiện. Từ đó, dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay lãi nặng nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giai đoạn hiện nay hầu như không thể căn cứ quy định này để xem xét định tội đối với hành vi này. Điều này, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải bổ sung văn bản, quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để đảm bảo tính toàn diện vủa việc xử lý vi phạm hành chính cũng như tạo căn cứ để áp dụng quy định của BLHS hiện hành đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Bất cập thứ hai, bất cập này cho đến hiện nay vẫn chưa được giải quyết đó là việc vay tài sản trong thực tế hiện nay có thể là vay tiền, vay vàng hoặc vay các tài sản khác. Tuy nhiên, lãi suất cho vay được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 làm căn cứ tính lãi nặng mới chỉ quy định lãi suất đối với tài sản cho vay là tiền mà chưa quy định lãi suất cho vay đối với các tài sản khác như vàng hay thóc (lúa) và các tài sản khác. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu để hướng dẫn cụ thể vấn đề lãi suất đối với hợp đồng vay tài sản khác không phải là tiền làm căn cứ cho việc giải quyết các vụ án hình sự cũng như các tranh chấp dân sự.
Bất cập thứ ba, về pháp nhân thực hiện hành vi cho vay lãi nặng. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các tổ chức tín dụng được thực hiện hoạt động ngân hàng, trong hoạt động ngân hàng có cả hoạt động cấp tín dụng, trong hoạt động cấp tín dụng bao gồm cả hoạt động cho vay. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 76 BLHS hiện hành, các pháp nhân thương mại này lại không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự dù có thực hiện hoạt động cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên. Hay nói cách khác, các giao dịch cho vay lãi nặng của các tổ chức không bị xử lý mặc dù nó có thể bị các đối tượng lợi dụng, núp bóng để thực hiện hoạt động cho vay lãi nặng trên thực tế. Đây là điều mà các nhà làm luật cần nghiên cứu, xem xét, để đảm bảo xử lý đầy đủ và kịp thời đối với loại tội phạm này ở nước ta hiện nay.

- Kết luận

Qua những nội dung đã phân tích trên cho thấy, đến nay, cùng với quy định tại Điều 201 BLHS (SĐ, BS năm 2017), Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao đã giải quyết được phần lớn những vướng mắc về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trong thời gian qua. Tuy nhiên, về mặt quy định cũng như tình hình tội phạm trên thực tế, việc xử lý loại tội phạm này vẫn còn một số vướng mắc, bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện, giúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất, rõ ràng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc xử lý loại tội phạm này.

6. Những vướng mắc, bất cập quy định tại chương XX Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các tội phạm về ma túy tại chương XX trên cơ sở kế thừa quy định về các tội phạm về ma túy tại chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999. So với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, quy định về các tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự hiện hành đã có những sửa đổi nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho việc xử lý các tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội này. 
Những thay đổi cơ bản ở nhóm tội này được thể hiện qua việc tách riêng các tội được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định ở 4 điều luật độc lập gồm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); tách riêng hai tội được quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định ở hai điều luật gồm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257) và tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258) để bảo đảm quy định đường lối xử lý phù hợp với từng tội, bổ sung các chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy đã được Chính phủ quy định nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm của thực tiễn…
Tuy nhiên, nghiên cứu quy định về nhóm tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự hiện hành trong tổng thể các tội thuộc chương này cũng như với các chương khác của Bộ luật hình sự, chúng tôi vẫn thấy còn một số bất cập nhất định.   
Trước hết, quy định về định lượng các chất ma túy tại các điều luật của chương này chưa thật sự khoa học. Ví dụ: Điều 248 về tội sản xuất trái phép chất ma túy quy định định lượng ma túy tại các cấu thành tội phạm tăng nặng như sau:           
Khoản 2:       
đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa Cần sa hoặc cao Coca có khối lượng từ 500g đến dưới 01 kg;
e) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 05g đến dưới 30g;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100g;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mml đến dưới 200 mml;       
Với quy định này, biên độ dao động giữa mức tối đa và mức tối thiểu của các chất ma túy được quy định ở các điểm hoàn toàn khác nhau:
- Điểm đ là 2 lần;
- Điểm e là 6 lần;
- Điểm g là 5 lần;
- Điểm h là 2 lần.
Khoản 3:       
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa Cần sa hoặc cao Côca có khối lượng từ 01kg đến dưới 05kg;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30g đến dưới 100g;         
d) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100g đến dưới 300g;     
đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200 mml đến dưới 750 mml;       
Tương tự như ở Khoản 2, biên độ dao động giữa mức tối đa và mức tối thiểu trong định lượng các chất được quy định tại các điểm cũng khác nhau:
- Điểm b: 5 lần;
- Điểm c: gần 3,3 lần;
- Điểm d: 3 lần; 
- Điểm l: 3,25 lần.
      Những con số trên cho thấy, định lượng ma túy được xác định ở các khoản tại Điều luật này (cũng như ở các điều luật khác) không theo một nguyên tắc thống nhất và do đó không bảo đảm tính khoa học. Mức chênh lệch giữa định lượng ma túy tối đa với định lượng ma túy tối thiểu ở cùng một khung hình phạt cũng như đối với cùng chất ma túy ở các khung hình phạt khác nhau không thống nhất dù được tính theo cách nào. Điều đó dẫn đến tình trạng lượng chất ma túy được xếp bình đẳng ở cùng một cấu thành tội phạm có thể có giá trị không giống nhau trong trường hợp tổng hợp nhiều chất ma túy. Ví dụ: Một người sản xuất cả bốn chất ma túy với định lượng đều là mức tối thiểu được quy định tại 4 điểm khác nhau ở Khoản 2, Điều 248 Bộ luật hình sự.
Đây là trường hợp mỗi chất ma túy được sản xuất có giá trị ngang bằng nhau trong việc định tội. Tuy nhiên khi tổng hợp chúng theo quy định tại Điểm e, Khoản 3, Điều 248 thì giá trị định tội của chúng lại khác nhau. Cụ thể là:     
Nhựa thuốc phiện: 500g = 50% mức khởi điểm của Khoản 3.
Heroine: 5 g ~ 16,6 % mức khởi điểm của Khoản 3.
Chất ma túy khác ở thể rắn: 100 g = 20% mức khởi điểm của Khoản 3.
Chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 200 mml = 50% mức khởi điểm của Khoản 3.
Như vậy, mặc dù định lượng mỗi chất có giá trị ngang nhau trong định tội theo Khoản 2 nhưng lại có giá trị khác nhau khi định tội ở Khoản 3. Điều đó cho thấy, nếu một người sản xuất 500 g nhựa thuốc phiện và 200 mml ma túy ở thể lỏng thì bị xử lý theo Điểm e, Khoản 3, Điều 248 Bộ luật hình sự nhưng nếu một người sản xuất 500 g nhựa thuốc phiện và 100 g chất ma túy khác ở thể rắn thì chỉ bị xử lý theo Khoản 2, Điều 248 Bộ luật hình sự.
Chúng tôi cho rằng, cần nghiên cứu để điều chỉnh quy định về định lượng các chất ma túy theo công thức thống nhất, bảo đảm xử lý như nhau đối với những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội tương đương nhau.       
         Thứ hai, quy định về cách tính hậu quả về thể chất ở một số tội trong chương các tội phạm về ma túy không thống nhất. Điều này được thể hiện trong cách quy định dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng ở tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 Bộ luật hình sự) và tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257 Bộ luật hình sự). Điều 255 Bộ luật hình sự quy định các dấu hiệu định khung tăng nặng tại Khoản 3 liên quan đến hậu quả về thể chất của con người tại các điểm a, b và c như sau:      
“a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%”.     
Khoản 4, Điều này quy định các dấu hiệu định khung tương ứng tại điểm a và điểm b là:
“a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;    
b) Làm chết 02 người trở lên”.      
Như vậy, theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% được xếp là dấu hiệu định khung của khoản 3; Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc làm chết 02 người trở lên được xếp là dấu hiệu định khung của khoản 4 Điều này.           
Trong khi đó, Khoản 3 và Khoản 4, Điều 257 Bộ luật hình sự lại quy định về các dấu hiệu này theo nguyên tắc khác. Theo đó, Khoản 3, Điều này quy định dấu hiệu:     
“Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người”. Khoản 4, Điều 257 chỉ quy định dấu hiệu định khung hình phạt là phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên. 
So với quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự, dấu hiệu gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% không được coi là dấu hiệu định khung của khoản 3 và gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên không được coi là dấu hiệu định khung của khoản 4. Đây là hai điều luật quy định về hai tội đều chứa đựng nguy cơ gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người như nhau nhưng các tình tiết tương ứng lại không được sử dụng một cách thống nhất trong quy định cấu thành tội phạm. Hiện tượng này vừa không khoa học vừa không bảo đảm nguyên tắc xử lý thống nhất tội phạm trong thực tiễn. 
Thứ ba, quy định về cách tính hậu quả về thể chất tại Điều 255 so với các tội được quy định tại các chương khác (ví dụ: Điều 310 Bộ luật hình sự) không thống nhất. Trong khi các dấu hiệu định khung hình phạt liên quan đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của nạn nhân ở Điều 255 Bộ luật hình sự về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được xây dựng theo hướng chỉ tính độc lập theo hậu quả đối với từng nạn nhân như trên thì ở nhiều điều luật khác có cùng tính chất trong Bộ luật hình sự còn áp dụng cách tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của tất cả các nạn nhân. Ví dụ: Tại Điều 310 Bộ luật hình sự về tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân quy định các dấu hiệu định tội tại Khoản 1 như sau:        
“a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;...”.       
Cách quy định này không chỉ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với mỗi nạn nhân riêng biệt mà còn tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các nạn nhân tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý hình sự đối với trường hợp hành vi tuy gây tổn thương cơ thể cho mỗi nạn nhân ở mức không cao (dưới 31% hoặc dưới 61%) nhưng số nạn nhân nhiều nên tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ ở mức cần xử lý hình sự hành vi của chủ thể. Việc các quy định về các tội phạm về ma túy không áp dụng cách quy định này so với các điều luật khác là một biểu hiện của sự thiếu thống nhất trong cách quy định các tội thuộc các chương khác nhau của Bộ luật hình sự hiện hành và chúng cần sớm được khắc phục.
Hiện tượng thứ hai và thứ ba cần được khắc phục theo hướng áp dụng các quy định thống nhất với cùng nội dung ở tất cả các tội trong cùng chương các tội phạm về ma túy cũng như trong cả Bộ luật hình sự.
Thứ tư, quy định về hình phạt bổ sung tại Điều 256 Bộ luật hình sự không thật hợp lý.
Khoản 3, Điều 256 quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như sau: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Với tính chất của hành vi phạm tội này là cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự, chúng tôi cho rằng hành vi phạm tội được quy định ở điều luật này có tính nguy hiểm thấp hơn so với hành vi phạm tội được quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự (Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy). Trong khi đó, người phạm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền còn người chứa chấp người khác sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Chúng tôi cho rằng việc quy định hình phạt tịch thu tài sản cần được loại bỏ khỏi tội này.
PGS.TS. Cao Thị Oanh     
Phó Trưởng Khoa LHS, trường Đại học Luật Hà Nội

7. Những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án tham nhũng

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 góp phần quan trọng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêng. BLHS năm 2015 quy định chủ thể của tội phạm tham nhũng theo hướng mở rộng hơn, quy định cụ thể về định lượng đối với hành vi chiếm đoạt, gây thiệt hại. Đây là những thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng xử lý hành vi tham nhũng thống nhất, hiệu quả.
 
Những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 thuận lợi để xử lý tội phạm tham nhũng, bao gồm:
 - Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với: Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, và khoản 4 Điều 353; tội nhận hối lộ quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 354 BLHS năm 2015.
 Việc quy định nêu trên phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng do tính chất đặc thù loại tội phạm này là khó phát hiện.
 - Quy định chủ thể tội phạm tham nhũng rộng hơn, dễ áp dụng để xử lý:
 Chủ thể của tội phạm tham nhũng, chức vụ theo quy định tại Điều 277 BLHS năm 1999 xác định là người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Nhưng chủ thể của tội phạm tham nhũng, chức vụ theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Hình sự năm 2015 được mở rộng hơn là người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Việc quy định thêm chủ thể là người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện nhiệm vụ là quy định tạo điều kiện thuận lợi khi xem xét xác định tội phạm tham nhũng và phù hợp với quy định người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, nhận hối lộ, thì bị xử lý về tội tham ô tài sản và nhận hối lộ.
- Các tội phạm tham nhũng có 07 tội danh theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, bao gồm: Tội tham ô tài sản (Điều 353); tội nhận hối lộ (Điều 354); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); tội giả mạo trong công tác (Điều 359) được quy định cụ thể về định lượng chiếm đoạt, gây thiệt hại cấu thành cơ bản và tình tiết định khung so với BLHS năm 1999 (chỉ quy định tính gây thiệt hại là: “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định khung của các tội phạm tham nhũng).
Việc quy định về định lượng chiếm đoạt và gây thiệt hại đối với tội phạm tham nhũng tạo điều kiện thuận lợi khi áp dụng BLHS năm 2015 mà không phải chờ Thông tư hướng dẫn.
Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thi hành BLHS năm 2015, nhận thấy có một số khó khăn, vướng mắc như sau:
 (1) BLHS năm 2015 cơ bản khắc phục những quy định mang tính định tính về các tội phạm tham nhũng nhưng đối với một số tội danh quy định tình tiết định khung vẫn còn khó khăn để áp dụng, cụ thể như:
 - Quy định tình tiết định khung “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” tại điểm c khoản 3 Điều 353 (Tội tham ô tài sản) và điểm d khoản 3 Điều 355 (Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản) là hành vi phạm tội có khung hình phạt từ 13 năm đến 20 năm (là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng). Việc xác định tính chất, mức độ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như thế nào là do nhận thức, đánh giá chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng, dễ dẫn đến việc đánh giá áp dụng quy định này không thống nhất, không chính xác.
- Đối với tội nhận hối lộ (điểm b khoản 1 Điều 354) quy định: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận lợi ích phi vật chất cho chính bản thân người đó hoặc cho tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. 
Việc quy định nhận hối lộ là lợi ích phi vật chất sẽ gây khó khăn cho khi xem xét trách nhiệm hình sự do không xác định được tính chất, mức độ của lợi ích phi vật chất, hơn nữa việc nhận là sẽ nhận (tương lai). Do vậy, cần phải có Thông tư hướng dẫn thực hiện, tránh việc đánh giá chủ quan, không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
(2) Về yếu tố xác định chủ thể của tội phạm tham nhũng, chức vụ theo quy định tại Điều 277 Bộ luật Hình sự năm 1999 xác định là người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ. Nhưng chủ thể của tội phạm tham nhũng, chức vụ theo quy định tại Điều 352 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được mở rộng hơn do quy định bổ sung là người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy hành vi vi phạm của chủ thể là Trưởng thôn, Phó Trưởng thôn thực hiện hành vi giao đất, bán đất, cho thuê đất trái thẩm quyền bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356).Trong khi đó, theo quy định của Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực thi hành 01/7/2019 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cho thấy:
 + Tại khoản 2, Điều 3, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: a) Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân… d) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
 + Khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước giải thích người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng vào một vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.
 Theo Quy chế hoạt động của thôn thì thôn là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư ở xã và thôn không phải là một cấp chính quyền; Trưởng thôn, Phó Trưởng thôn tuy là người có chức vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản nhưng để thực hiện nhiệm vụ mà không có đủ điều kiện là người có chức vụ, quyền hạn để thực hiện công vụ.
Vì vậy, đối với 02 tội danh mà điều luật quy định rõ ràng là phải thực hiện trong khi thi hành công vụ (không quy định nhiệm vụ) đó là: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356) và tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357) mà trên thực tế hiện nay đang áp dụng có sự bất cập, không thống nhất, cần phải xem xét để áp dụng cho chính xác, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và chính xác giữa quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và các đạo luật khác.
(3) Đối với các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ và tội giả mạo trong công tác Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác… thì động cơ, mục đích vì vụ lợi được hiểu là vụ lợi về vật chất và vụ lợi phi vật chất. Như vậy, khi áp dụng quy định mang tính định tính này, sẽ gặp những khó khăn, vướng mắc, hơn nữa, vụ lợi phi vật chất có tính trìu tượng, có thể là vì động cơ, mục đích tích cực và ngược lại. Vì vậy, việc đánh giá, xác định động cơ vụ lợi phi vật chất phụ thuộc vào sự đánh giá mang tính chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng. 
Do vậy, cần phải có hướng dẫn áp dụng pháp luật để làm cơ sở xác định những căn cứ cấu thành tội phạm và xem xét trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật. 
(4) Việc xác định thiệt hại trong các vụ án tham nhũng, chức vụ hiện nay cũng là một vấn đề còn nhiều vướng mắc, đặc biệt là trong các vụ án liên quan đến đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản… Một số vụ án tham nhũng liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản gặp nhiều vướng mắc trong việc xác định thiệt hại do các công trình thi công trong nhiều năm, chưa quyết toán, dẫn đến không thực hiện giám định được. Đây chính là nguyên nhân mà có rất ít các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được khởi tố để điều tra, truy tố, xét xử trong thời gian qua. 
(5) Công tác thu hồi tài sản do tội phạm tham nhũng gây ra hiện đang gặp nhiều khó khăn, khó thu hồi (vì thực tiễn tỷ lệ thu hồi thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu quy định) do vướng mắc của quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 128 và khoản 3 Điều 129 BLTTHS năm 2015 thì chỉ kê biên phần tài sản hoặc phong tỏa tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại.
 Tuy nhiên, trong trường hợp áp dụng việc kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản từ giai đoạn điều tra thì việc xác định phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại là rất khó khăn, do hoạt động điều tra ban đầu chưa thể xác định được chính xác mức độ thiệt hại để có thể áp dụng việc kê biên, phong tỏa đúng quy định.
 Các quy định của pháp luật cần phải đồng bộ và dễ thực hiện hơn theo hướng khi có căn cứ xác định tài sản hình thành có liên quan đến hành vi tham nhũng thì bị kê biên, thời hạn kê biên theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Quy định như vậy bảo đảm dễ áp dụng và sẽ bảo vệ quyền lợi của những người liên quan đến phần tài sản không phải do hình thành từ hành vi tham nhũng.
 Sau một năm triển khai thi hành BLHS năm 2015, thực tiễn tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy việc áp dụng để xử lý hình sự đối với tội phạm tham nhũng bên cạnh những thuận lợi cơ bản, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được tiếp tục tham gia đóng góp và có sự tổng hợp đầy đủ hơn để có những kiến nghị, đề xuất sủa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hình sự xử lý đối tội phạm tham nhũng trong thời gian tới./.
    Hoàng Lê Thông, Trưởng Phòng 5 VKSND thành phố Hà Nội
(Theo Trang thông tin điện tử VKSND thành phố Hà Nộ

8. Điểm bất cập trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

ĐINH THỊ NGỌC BÍCH ( Tòa án Quân sự Quân khu 4) - BLHS 2015 có quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại (PNTM) tại Chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng với 2 tội đó là Tội tài trợ khủng bố (Điều 300), Tội rửa tiền (Điều 324), tuy nhiên đối với cả 2 tội này, lại có điểm bất cập về quy định đối với hành vi phạm tội, mà rõ hơn là quy định về hành vi phạm tội giữa cá nhân và PNTM còn chưa phù hợp với thực tiễn.
BLHS 2015 có quy định mới về vấn đề trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với pháp nhân thương mại (PNTM) với 31 tội phạm (13 tội phạm về môi trường, 18 tội phạm về kinh tế), BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 bổ sung thêm quy định về TNHS đối với PNTM tại Chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng với 2 tội đó là Tội tài trợ khủng bố (Điều 300), Tội rửa tiền (Điều 324), tuy nhiên đối với cả 2 tội mới bổ sung thêm này, lại có điểm bất cập về quy định đối với hành vi phạm tội, mà rõ hơn là quy định về hành vi phạm tội giữa cá nhân và PNTM còn chưa phù hợp với thực tiễn.
Quy định của luật
Tội tài trợ khủng bố được hiểu là hành vi của cá nhân hoặc PNTM huy động, tài trợ về tiền, tài sản dưới mọi hình thức nhằm giúp sức cho cá nhân, tổ chức khủng bố về vật chất để cá nhân, tổ chức đó tiến hành các hoạt động khủng bố gây tình trạng hoảng sợ trong công chúng, xâm phạm đến các quan hệ mà pháp luật bảo vệ.
Điều 300 BLHS 2015 quy định về tội tài trợ khủng bố đối với người thực hiện hành vi trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội (là trường hợp cá nhân chưa thực hiện hành vi phạm tội nhưng đã có hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi này) hay đã thực hiện hành vi phạm tội, cùng với TNHS mà cá nhân phải chịu khi thực hiện từng giai đoạn tội phạm, ngoài ra điểm mới của điều luật còn quy định thêm trường hợp PNTM thực hiện hành vi tội phạm và TNHS mà PNTM phải chịu khi phạm tội tại khoản 1 của điều này, tại Điều 79 BLHS và các hình phạt bổ sung.
Tội rửa tiền được hiểu là hành vi của cá nhân hay tổ chức tìm cách chuyển đổi các khoản lợi nhuận hoặc các tài sản khác có được từ hành vi phạm tội chuyển thành các tài sản được coi là hợp pháp, hoặc che giấu nguồn gốc của tiền, tài sản đó dù biết tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Điều 324 BLHS 2015 quy định các hành vi rửa tiền đối với cá nhân trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội cùng với TNHS mà cá nhân phải chịu. Ngoài ra, BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung quy định thêm về trường hợp phạm tội rửa tiền đối với PNTM, theo đó PNTM khi thực hiện các hành vi rửa tiền trong giai đoạn phạm tội theo khoản 1, điểm a, c, d, e, g và h khoản 2, khoản 3 Điều 324, Điều 79 thì phải chịu TNHS, ngoài ra luật còn quy định thêm các hình phạt bổ sung đối với PNTM.
Chương XI Bộ luật Hình sự 2015 quy định về PNTM phạm tội, trong đó Điều 79 quy định các trường hợp bị đình chỉ vĩnh viễn khi PMTM vi phạm vào một trong các trường hợp quy định tại điều luật này.
Điều 14 BLHS 2015 quy định về giai đoạn chuẩn bị thực hiện tội phạm và từng trường hợp phải chịu TNHS trong giai đoạn này. Theo đó, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, trong giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động, tuy nhiên, tùy theo tính chất của hành vi, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà giai đoạn chuẩn bị phạm tội có thể có hoặc không bị truy cứu TNHS.
Tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố được xếp vào nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Rửa tiền và tài trợ khủng bố là hành vi rất nguy hiểm, hành vi rửa tiền gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, tác động nghiêm trọng đến sự trong sạch và hoàn chỉnh của hệ thống tài chính toàn thế giới; khủng bố là một trong những loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội của quốc gia và cộng đồng quốc tế, tài trợ khủng bố là hành vi tạo điều kiện về vật chất, giúp sức cho các hành vi khủng bố được thực hiện thuận lợi, quy mô hơn, hành vi tài trợ khủng bố tuy không trực tiếp xâm hại đến các đối tượng được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên hành vi này lại là mối nguy cơ đặc biệt nguy hiểm… Hai tội này được xem là tội phạm không biên giới, là tội phạm quốc tế điển hình vì nó liên quan đến nhiều quốc gia và cần có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa các quốc gia để ngăn chặn tội phạm.
Những điểm vướng mắc
PNTM phải chịu TNHS khi vi phạm các trường hợp luật định về rửa tiền và tài trợ khủng bố, đây là một điểm mới phù hợp với các công ước mà Việt Nam tham gia, phù hợp với thực tiễn ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, điểm chưa phù hợp ở đây là: Do là 2 tội đặc biệt nguy hiểm, tác động xấu tới nhiều phương diện của xã hội nên cá nhân phải chịu TNHS ngay cả trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội nhưng PNTM chỉ phải chịu TNHS khi tội phạm đã thực hiện hành vi.
Thứ nhất, PNTM là doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác được thành lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên (Điều 75 BLDS 2015). Việc PNTM chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân (khoản 2 Điều 75 BLHS 2015) tức là bản thân PNTM là tổ chức, hoạt động dựa trên các hành vi của cá nhân nhân danh “mình”, đại diện cho “mình”, vì vậy, người nhân danh PNTM, đại diện cho PNTM thực hiện hành vi phạm tội đều phải chịu TNHS cùng tội danh đối với PNTM (có thể trừ một số trường hợp không phải chịu TNHS), như vậy, các hành vi phạm tội của PNTM đều do cá nhân nhân danh mình thực hiện hành vi phạm tội, tức là khi PNTM phạm tội cũng sẽ trải qua giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Thứ hai, PNTM có tổ chức, có tiềm lực về kinh tế, về nhân lực… lớn mạnh hơn cá nhân nhiều lần nên khi thực hiện hành vi phạm tội, kể cả khi thực hiện hành vi trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì PNTM có khả năng gây thiệt hại lớn hơn so với hành vi chuẩn bị phạm tội của cá nhân. Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ quy định trường hợp cá nhân phải chịu TNHS trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, nhưng lại chưa quy định TNHS đối với PNTM trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng như vậy còn chưa phù hợp với thực tiễn.
TNHS của PNTM là điểm tiến bộ của BLHS 2015, nó bám sát được thực tiễn, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế – xã hội, bên cạnh đó, do còn là vấn đề mới đối với pháp luật nước nhà nên quy định về TNHS của PNTM còn điểm bất cập, rất mong nhận ý kiến thảo luận của các độc giả xa gần.



TÀI LIỆU VĂN BẢN LUẬT
  1. https://luatvietnam.vn/hinh-su/bo-luat-hinh-su-2015-101324-d1.html
  2. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-01-VBHN-VPQH-2017-Bo-luat-Hinh-su-363655.aspx
  3. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bat-dong-san/Luat-Dat-dai-2003-13-2003-QH11-51685.aspx
  4. https://luatvietnam.vn/dat-dai/luat-dat-dai-2013-83386-d1.html
  5. https://www.tracuuphapluat.info/2019/04/van-ban-hop-nhat-luat-dat-dai-nam-2018.html
                                               Tác giả: TS. Lê Văn Quyến – Trưởng khoa Pháp luật hành chính

 

CÁC BÀI KHÁC

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây